Vắc xin phụ cho chó

Chó con dễ mắc một số bệnh nhiễm trùng và cần được tiêm phòng ngay khi chúng đủ lớn để giúp chúng có hệ miễn dịch mạnh mẽ. Các bệnh thường gặp là ho sốt ở chó, viêm gan truyền nhiễm, bệnh Parvo (một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút CPV gây ra, gây viêm ruột, có lẫn chất nhầy lẫn máu, kèm theo nôn mửa), cúm và ốm khờ dại. Vắc xin chống lại bệnh leptospirosis, Giardia, coronavirus, bệnh đường hô hấp (vi rút Bordetella pneumoniaseptica), và bệnh Lyme (bọ chét) là tùy chọn. Việc sử dụng phụ thuộc vào sự phổ biến của các bệnh này trong khu vực của bạn và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến con chó của bạn.

Hiệp hội Thú y Hoa Kỳ (AAHA) đã ban hành hướng dẫn phân loại vắc xin thành vắc xin chính và vắc xin thứ cấp, và các phân loại này được chỉ định cho tất cả các vắc xin được mô tả trong phần này.

Vắc xin phụ cho chó

Vắc xin phụ cho chó

1 Vắc xin bệnh Leptospirosis (vắc xin bổ trợ)

Vắc xin vi khuẩn là vắc xin được chế tạo từ vi khuẩn đã chết hoặc không còn khả năng truyền bệnh.

Vi khuẩn Leptospira hoạt động chống lại 2 hoặc 4 trong số các phân lớp phổ biến nhất của vi khuẩn gây bệnh leptospira. Vắc xin vi khuẩn 2 serovar (serovar là một nhóm vi sinh vật) có thể được kết hợp trong một liều DHPP duy nhất tiêm khi trẻ 12 tuần tuổi và tiêm nhắc lại khi trẻ 14 đến 16 tuần tuổi. Nhiều bác sĩ thú y tiêm các liều vắc xin vi khuẩn 4-serovar riêng biệt vào lúc 12 tuần và liều thứ hai ba tuần sau đó.

Vắc xin Leptospira thường gây ra 70% trường hợp phản ứng phản vệ sau khi tiêm DHLPP. Chó nhỏ và chó con dưới 12 tuần tuổi có tỷ lệ phản ứng với vắc-xin vi khuẩn này cao nhất. Ngoài ra, vắc-xin 2-serovar không bảo vệ chống lại hai tác nhân gây bệnh chính hiện nay. Do đó, tiêm chủng định kỳ hiện được coi là không bắt buộc. Nó chỉ được chỉ định ở những nơi có nguy cơ lây nhiễm cao hơn tác dụng của vắc-xin. Leptospiros không có trong các vắc xin kết hợp và được tiêm riêng.

Cả Fort Dodge và Pfizer đều có vắc-xin có thể bảo vệ chống lại cả bốn loại huyết thanh chính của bệnh leptospirosis. Đây là những vắc xin nhóm nhỏ nên ít xảy ra dị ứng với vắc xin hơn. Trong trường hợp bệnh leptospirosis tăng lên, vắc-xin này được khuyên dùng ở nhiều nơi hơn. Thời gian miễn dịch trung bình sau khi tiêm vắc xin khoảng 4 – 6 tháng. Do đó, nếu việc tiêm phòng là quan trọng, bác sĩ có thể đề nghị tiêm nhắc lại sau mỗi 6 tháng. Bạn cần thảo luận vấn đề này với bác sĩ thú y.

s recombitek c6cv new c25023ca50ec45b9a98e6355b8f30c01 master

2 Canine Parainfluenza (Vắc xin bổ trợ)

Parainfluenza là loại vi rút chủ yếu liên quan đến bệnh ho cũi. Vắc xin làm giảm tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng, nhưng sẽ không ngăn ngừa được bệnh. Thuốc chủng ngừa bệnh DHPP và thuốc chủng ngừa parainfuenza-sởi-chó được bao gồm parainfluenza. Liều đầu tiên được tiêm khi trẻ 8 đến 12 tuổi và liều thứ hai khi được 16 tuần. Các hướng dẫn của AAHA năm 2006 khuyên bạn nên tiêm khi chó được 6 đến 8 tuần tuổi, sau đó cứ 3 đến 4 tuần một lần cho đến khi chó được 12 đến 14 tuần tuổi, nhưng nhiều bác sĩ thú y thường đợi đến khi chó được 7 đến 8 tuần tuổi. tuổi bắt đầu tiêm chủng. Thuốc chủng ngừa qua đường mũi sẽ kết hợp với thuốc chủng ngừa bordetella.

Thuốc chủng ngừa parainfluenza sẽ bảo vệ chó, nhưng sẽ không loại bỏ vi-rút khỏi dịch tiết mũi. Điều này có nghĩa là chó vẫn có thể truyền bệnh. Việc tiêm phòng qua đường mũi sẽ vừa phòng bệnh, vừa ngăn ngừa lây nhiễm, do đó loại trừ khả năng truyền bệnh cho những con chó khác.

Các nhà sản xuất khuyến cáo nên tiêm nhắc lại hàng năm. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy không phải lúc nào vắc-xin parainfluenza cũng có hiệu quả trong suốt 12 tháng, và trong nhiều trường hợp chúng ta cần tiêm hai lần một năm, đặc biệt là đối với những con chó có nguy cơ nhiễm bệnh cao. Khuyến cáo này chỉ áp dụng cho vắc xin parainfluenza – không áp dụng cho các vắc xin thường có trong vắc xin phối hợp. Đây không phải là loại vắc xin chính, vì vậy chỉ nên tiêm cho những con chó có thói quen nguy cơ cao, chẳng hạn như chó đi show và chó nhốt trong chuồng.

Blog Pet Yêu chúc bạn và thú cưng vui vẻ!